Select language:

Đề án “Thí điểm mô hình trồng các loài cây bản địa để khôi phục lại rừng tại Khu BTTN Núi Ông”

Thứ hai - 29/10/2018 21:26
Đề án “Thí điểm mô hình trồng các loài cây bản địa để khôi phục lại rừng tại Khu BTTN Núi Ông” được Viện Sinh thái rừng và môi trường thực hiện từ tháng 9/2017. Theo kết quả báo cáo của đề án, đơn vị tư vấn đã  chọn được 4 loài cây bản địa để phục hồi lại rừng bao gồm: Ươi, Trám Trắng, Thanh trà, Sa nhân.

     Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Núi Ông tiền thân là Khu BTTN Biển Lạc - Núi Ông được thành lập theo Quyết định số 14/TTg ngày 19/10/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là nơi có đa dạng sinh học cao với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Là một trong những khu vực ưu tiên số một trong chương trình bảo tồn dãy Trường Sơn với nhiều kiểu thảm thực vật quan trọng như rừng nhiệt đới thường xanh trên đất thấp, rừng nhiệt đới nguyên sinh rụng lá trên đất thấp, rừng lùn trên núi cao. Chính vì tầm quan trọng đó mà việc quản lý và bảo vệ rừng ở Khu BTTN Núi Ông có một ý nghĩa quan trọng không những cho việc bảo tồn đa dạng sinh học mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế sức phá hoại của thiên tai, giảm thiểu nguồn ô nhiễm môi trường, đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển kinh tế trong vùng.

     Trong thời gian qua, Khu BTTN Núi Ông gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng, tình trạng xâm lấn đất rừng để lấy đất sản xuất, khai thác lâm sản trái phép, … , Việc xây dựng đề án "Thí điểm mô hình trồng các loài cây bản địa để khôi phục lại rừng tại Khu BTTN Núi Ông" là thực sự cần thiết nhằm thiết lập cơ sở cho việc xây dựng cơ chế phục hồi lại rừng trên diện tích đất bị xâm lấn trồng cây công nghiệp dài ngày và sản xuất lương thực góp phần bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng Núi Ông, cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm.

     Đề án được thực hiện với mục tiêu: "Triển khai thực hiện thí điểm chính sách đồng quản lý rừng, chia sẽ lợi ích giữa các bên liên quan (Nhà nước/chủ rừng và cộng đồng/người dân) góp phần quản lý rừng đặc dụng tại Khu BTTN Núi Ông một cách bền vững và hiệu quả". Để đáp ứng được mục tiêu, đơn vị tư vấn đã thực hiện các nội dung:

     - Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm

     - Đặc điểm hiện trạng cây trồng trên đất lâm nghiệp bị xâm lấn và kết quả lựa chọn loài cây bản địa để phục hồi lại rừng

     - Thiết kế mô hình trồng các loài cây bản địa để phục hồi lại rừng trên diện tích đất rừng đặc dụng bị xâm lấn

     - Thiết kế và vận hành mô hình đồng quản lý rừng giữa các bên liên quan

     - Giải pháp thực hiện

     - Tổng hợp đầu tư và hiệu qua kinh tế

     Theo kết quả xây dựng đề án, diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép trong những năm trước đây tại Khu BTTN Núi Ông là 1.045,87 ha, trong đó có 245,39 ha trồng điều, cao su và 800,48 ha trồng Sắn, Ngô, Đậu. Từ kết quả đánh giá về đặc điểm hiện trạng cây trồng trên đất lâm nghiệp bị xâm lấn và kết quả lựa chọn loài cây bản địa để phục hồi lại rừng, đơn vị tư vấn đã đề xuất được 4 loài cây bản địa phù hợp bao gồm: Ươi , Trám trắng, Thanh trà, Sa nhân. Trên cơ sở kết quả phân tích tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tiềm năng về rừng và đất lâm nghiệp, sự đa dạng về các loài cây bản địa, đề án đã sử dụng phương pháp tham vấn các bên liên quan bao gồm: Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm Lâm, Ban quản lý Khu BTTN Núi Ông, các phòng ban của huyện Tánh Linh, huyện Hàm Thuận Nam, UBND các xã và người dân địa phương thuộc vùng đệm của Khu bảo tồn để xác định một số mô hình nhằm khôi phục lại rừng bằng các loài cây bản địa.

   

Hình ảnh Hội nghị tham vấn dự thảo Đề án tại Hội trường UBND huyện Tánh Linh ngày 15/01/2018

     Các mô hình được tổng hợp theo các nội dung: Đặc điểm lập địa xây dựng mô hình, Loài cây trồng, Phương thức trồng, Mật độ trồng, Phương thức trồng, Biện pháp xử lý thực bì, Biện pháp làm đất, bón phân, Thời gian trồng, Tiêu chuẩn cây con mang trồng, Kỹ thuật trồng, Trồng dặm, Chăm sóc mô hình, Phòng trừ sâu bệnh hại và bảo vệ. Hai mô hình được đề xuất: Mô hình trồng Ươi/Trám trắng, Thanh trà, Sa nhân trên vùng đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, Mô hình trồng bổ sung cây Sa nhân dưới tán các cây trồng công nghiệp lâu năm (Cao su, Điều). Một số hình ảnh mô phỏng của các mô hình:

   

Mô phỏng mô hình trồng Ươi/Trám trắng, Thanh trà, Sa nhân trên vùng đất trống, đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày

Mô phỏng mô hình trồng bổ sung Sa nhân dưới tán cây công nghiệp lâu năm

     Đơn vị tư vấn đã đưa ra được các giải pháp thực hiện về: tổ chức, quản lý và kỹ thuật; cơ chế, chính sách; khoa học công nghệ, đào tạo và khuyến lâm; huy động vốn. Để có cách nhìn khách quan về hiệu quả kinh tế của các mô hình, đơn vị tư vấn đã tổng hợp được đầu tư và hiệu quả kinh tế a) Cơ sở xác định nhu cầu vốn trên cơ sở các quy định hiện hành và tình hình thực tế, nhu cầu vốn cho các hoạt động chính trong đề án Thí điểm trồng các loài cây bản địa để khôi phục lại rừng tại Khu BTTN Núi Ông. Theo kết quả tính toán, các mô hình trồng các loài cây bản địa để phục hồi lại rừng tại Khu BTTN Núi Ông sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao: Mô hình Trồng Ươi/Trám, Thanh trà, Sa nhân trên đất trống, đất có cây nông nghiệp có thể mang lại hiệu quả kinh tế từ 12-13 triệu đồng/ha/năm; Mô hình trồng bổ sung Sa nhân dưới tán cây cây công nghiệp (Điều, Cao su) cũng mang lại thu nhập bổ sung khoảng 7,5 triệu đồng/ha/năm bằng việc tận dụng đất dưới tán để trồng Sa nhân. Hiệu quả kinh tế từ các mô hình ngày càng tăng lên do sau 10 năm cây Trám trắng, Ươi, sau 6 năm cây Thanh trà và sau 3 năm đối với Sa nhân vì các loài cây này sẽ cho sản lượng tăng và ổn định. Hiệu quả kinh tế từ các mô hình này cao hơn rất nhiều lần so với tiền khoán quản lý bảo vệ rừng hiện nay (khoảng 200.000 đồng/ha/năm).

     Kết quả của đề án là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng cơ chế phục hồi lại rừng trên diện tích đất bị xâm lấn trồng cây công nghiệp dài ngày và sản xuất lương thực góp phần bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng Núi Ông, cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm.

Tác giả bài viết: Kiều Đăng Anh

Nguồn tin: Viện Sinh Thái rừng và môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Rừng giống chuyển hóa Thông nhựa

          Theo quyết định số 153/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt Chương trình phát triển giống cây lâm nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2020 đã nêu rõ các công việc cụ thể cần thực hiện trong giai đoạn 2010-2020, trong đó có việc điều tra bổ sung, tuyển chọn các...

Hình ảnh
Hướng nghiên cứu trọng điểm:
Hướng nghiên cứu trọng điểm Viện Sinh thái rừng và Môi trường (Research focus of IFEE):
 
1. Phát triển ứng dụng thiết bị di động (smart phones, tablets) trong khai thác, giám sát, cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu rừng ven biển và tập huấn
(Developing applications of mobile devices (smart phones, tablets) in the access, monitoring and udating of the coastal forest database system and training)  

2. Khảo sát lập địa; thiết kế phục hồi, trồng mới và các giải pháp bảo vệ rừng trồng ven biển cho các xã vùng dự án phục vụ công tác trồng rừng cho 2 năm 2020 - 2021
(Consulting services on site surveying; designing restoration, new planting and solutions for protection of coastal plantation forest for project communes for the afforestation in period 2020-2021)

3.  Rà soát, điều chỉnh giao đất phục vụ cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng trên địa bàn 05 xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La 
(Review and revise red books in Bac Yen, Son La)

4. Điều tra, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp khôi phục, phát triển hệ sinh thái rừng khộp ở Tây Nguyên
(Survey, evaluate the current situation and propose a number of solutions to restore and develop the ecosystem of dipterocarp forest in the Central Highlands)
Thống kê
  • Đang truy cập94
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm93
  • Hôm nay27,751
  • Tháng hiện tại363,296
  • Tổng lượt truy cập21,653,180
Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Viện Sinh thái rừng và Môi trường?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây